NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA THÔNG TƯ 72/2026/TT-BTC VỀ QUY ĐỊNH MỨC THU, MIỄN, GIẢM, CHẾ ĐỘ THU, NỘP PHÍ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ  

Ngày 23/6/2026, Bộ Tài Chính ban hành Thông tư số 72/2026/TT-BTC quy định về mức thu, miễn, giảm, chế độ thu, nộp phí thi hành án dân sự. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ 01/7/2026, thay thế cho Thông tư số 216/2016/TT-BTC ngày 10/11/2026 và các văn bản sửa đổi bổ sung trước đây.

Thông tư 72/2026/TT-BTC không chỉ kế thừa các nguyên tắc cơ bản về thu và nộp phí thi hành án dân sự mà còn sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung đáng chú ý. Bài viết này tập trung phân tích những điểm mới đáng chú ý của Thông tư 72/2026/TT-BTC trên cơ sở so sánh những quy định cũ của Thông tư số 216/2016/TT-BTC, nhằm đánh giá ý nghĩa và tác động của quy định mới đối với thực tiễn áp dụng.

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA THÔNG TƯ 72/2026/TT-BTC CÓ HIỆU LỰC TỪ 01/7/2026

Mở rộng đối tượng nộp phí thi hành án

Tại Điều 2 của Thông tư số 216/2016/TT-BTC quy định người nộp phí thi hành án là “Người được thi hành án khi nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh; phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại phải nộp phí thi hành án dân sự theo quy định tại Thông tư này”. Theo đó, nghĩa vụ nộp phí chỉ phát sinh đối với chủ thể được thi hành án sau khi họ nhận được tiền hoặc tài sản.

Trong khi đó, Thông tư 72/2026/TT-BTC đã mở rộng phạm vi điều chỉnh về đối tượng nộp phí, bao gồm “Đương sự (gồm người được thi hành án và người phải thi hành án) yêu cầu thi hành án phải nộp phí thi hành án dân sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”. Theo đó, bên cạnh người được thi hành án, người phải thi hành án trong trường hợp có yêu cầu cơ quan thi hành án tổ chức thi hành theo quy định của pháp luật cũng thuộc đối tượng nộp phí thi hành án dân sự.

Đồng thời, Thông tư mới bổ sung một số trường hợp người được nhận tiền, tài sản phải nộp phí thi hành án dân sự, cụ thể tại khoản 2 Điều 2 quy định:

“a) Bản án, quyết định có nội dung nhiều người được nhận chung một tài sản, một khoản tiền cụ thể nhưng chỉ có một hoặc một số người được thi hành án có yêu cầu thi hành án;

  1. b) Bản án, quyết định chia tài sản chung, chia thừa kế, chia tài sản trong ly hôn hoặc tuyên các bên vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ đối với tài sản nhưng chỉ có một hoặc một số người có yêu cầu thi hành án.”

Tuy nhiên về thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp phí quy định tại khoản 3 Điều 2 Thông tư 72/2026/TT-BTC vẫn kế thừa quy định của Thông tư số 216/2016/TT-BTC ngày 10/11/2026 và các văn bản sửa đổi bổ sung trước đây.

Việc mở rộng phạm vi chủ thể có nghĩa vụ nộp phí, bổ sung chi tiết các trường hợp phải nộp phí tạo nên cơ sở rõ ràng hơn cho cơ quan thi hành án trong quá trình xác định nghĩa vụ nộp phí của các đương sự.

Sửa đổi, bổ sung các các trường hợp không phải chịu phí thi hành án dân sự

Nếu Điều 6 Thông tư số 216/2016/TT-BTC chỉ quy định 08 trường hợp người được thi hành án không phải chịu phí, thì Điều 3 Thông tư số 72/2026/TT-BTC đã mở rộng thành 09 trường hợp, đồng thời sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung nhằm bảo đảm thống nhất với Luật Thi hành án dân sự năm 2025, cụ thể như sau:

Nội dung Thông tư 216/2016/TT-BTC Thông tư 72/2026/TT-BTC
Đối tượng áp dụng Người được thi hành án Người nộp phí (bao gồm người được thi hành án và người phải thi hành án theo Điều 2 Thông tư)
Các trường hợp không phải chịu phí thi hành án dân sự 1. Tiền cấp dưỡng; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; tiền lương, tiền công; trợ cấp mất việc, trợ cấp thôi việc; bảo hiểm xã hội; bồi thường do bị sa thải, chấm dứt HĐLĐ;

2. Hiện vật chỉ có ý nghĩa tinh thần, gắn với nhân thân người nhận và không có khả năng trao đổi;

3. Tiền hoặc giá trị tài sản theo yêu cầu thi hành án không vượt quá hai lần mức lương cơ sở;

4. Bản án, quyết định của Tòa án không có giá ngạch và không thu án phí có giá ngạch;

5. Tiền, tài sản được trả lại cho đương sự trong trường hợp cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án;

6. Tiền, tài sản do đương sự tự nguyện thi hành trong thời hạn tự nguyện thi hành án.

 

1. Tiền cấp dưỡng; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tinh thần; tiền lương, tiền công; trợ cấp mất việc, trợ cấp thôi việc; bảo hiểm xã hội; tiền bồi thường do bị sa thải hoặc chấm dứt HĐLĐ;

2. Hiện vật chỉ có ý nghĩa tinh thần, gắn với nhân thân người nhận;

3. Tiền hoặc giá trị tài sản theo yêu cầu thi hành án không vượt quá một lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

4. Tiền, tài sản, vật, giấy tờ được trả lại cho đương sự trong trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án;

5. Tiền, tài sản thu được trước khi Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án hoặc được thi hành trong thời hạn tự nguyện;

6. Các khoản thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, truy thu tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, án phí, lệ phí, thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản thuộc diện sung công, truy thu thuế, khoản viện trợ hoặc bồi thường cho Nhà nước và các khoản khác nộp trực tiếp vào ngân sách nhà nước;

7. Khoản tiền, tài sản do Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản chi trả cho người được thi hành án từ việc bán tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã mà Chấp hành viên không phải ra quyết định cưỡng chế thi hành án.

1. Khoản kinh phí thực hiện các chương trình chính sách xã hội của Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn; các khoản kinh phí trực tiếp phục vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục của nhân dân không vì mục đích kinh doanh;

2. Khoản thu hồi nợ vay của Ngân hàng Chính sách xã hội đối với người nghèo và các đối tượng chính sách;

Thông tư 72/2026/TT-BTC sửa đổi, bổ sung đáng kể các trường hợp không phải chịu phí thi hành án dân sự theo hướng cụ thể và toàn diện hơn, như: Thay đổi ngưỡng miễn phí từ hai lần mức lương cơ sở sang một lần mức lương tối thiểu vùng; bổ sung các trường hợp liên quan đến thi hành các khoản nộp ngân sách nhà nước, thi hành trong thủ tục phá sản, các khoản kinh phí thực hiện chính sách an sinh xã hội và thu hồi nợ của Ngân hàng Chính sách xã hội. Nhìn chung, Thông tư 72/2026/TT-BTC đã mở rộng phạm vi miễn phí thi hành án dân sự, góp phần giảm nghĩa vụ tài chính đối với một số đối tượng và phù hợp hơn với thực tiễn tổ chức thi hành án.

Hoàn thiện quy định về mức thu phí

Về cơ bản, Thông tư 72/2026/TT-BTC kế thừa gần như toàn bộ cơ chế tính phí của Thông tư 216/2016/TT-BTC, không thay đổi biểu phí và cách tính đối với từng mức giá trị tài sản. Tuy nhiên, Thông tư 72/2026/TT-BTC có một số điểm đáng chú ý:

  • Thứ nhất, thay đổi căn cứ xác định ngưỡng miễn phí từ 02 lần mức lương cơ sở sang 01 lần mức lương tối thiểu vùng, bảo đảm phù hợp với chính sách cải cách tiền lương và hệ thống pháp luật hiện hành.
  • Thứ hai, mở rộng đối tượng chịu phí thanh “người nộp phí” thay cho “người được thi hành án”, tạo cơ sở pháp lý để áp dụng linh hoạt đối với các trường hợp mà pháp luật quy định người phải thi hành án cũng có nghĩa vụ nộp phí.
  • Thứ ba, bổ sung các quy định mới về thu phí khi đình chỉ thi hành án, đồng thời làm rõ hơn các trường hợp tự giao nhận tài sản, nhiều người cùng nhận tài sản và điều kiện thu 100% phí, qua đó khắc phục những khoảng trống của Thông tư 216/2016/TT-BTC và bảo đảm thống nhất với Luật Thi hành án dân sự năm 2025 và Nghị định 152/2026/NĐ-CP.

Có thể thấy, Thông tư 72/2026/TT-BTC chủ yếu hoàn thiện và cập nhật quy định hiện hành theo hướng đồng bộ với khung pháp lý mới, thay vì thay đổi chính sách thu phí thi hành án dân sự một cách căn bản.

Mở rộng đối tượng được miễn, giảm phí thi hành án dân sự

Thông tư 72/2026/TT-BTC có những thay đổi góp phần bảo đảm tính thống nhất với các quy định pháp luật hiện hành, tạo thuận lợi trong quá trình áp dụng và bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người được thi hành án. Các điểm thay đổi đáng chú ý được thể hiện như sau:

Nội dung Thông tư 216/2016/TT-BTC Thông tư 72/2026/TT-BTC
Đối tượng được miễn phí thi hành án dân sự Các đối tượng được nêu tại Khoản 1 Điều 7 Thông tư gồm:

–     Được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng;

–     Thuộc diện neo đơn được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận; thuộc diện tàn tật hoặc ốm đau kéo dài có tóm tắt hồ sơ bệnh án được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp huyện trở lên xác nhận;

–     Người được thi hành án xác minh chính xác sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án.

Các đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 6 Thông tư đã được bổ sung cụ thể chặt chẽ hơn so với quy định trước đây nhằm tạo sự thuận tiện trong công tác quản lý cũng như mở rộng đối tượng được miễn, gồm:

–     Được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng theo quy định;

–     Người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định; người cao tuổi không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận; người khuyết tật theo quy định của pháp luật về người khuyết tật hoặc người mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày có hồ sơ bệnh án có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên theo quy định của pháp luật và tài liệu kèm theo; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

Đối tượng được giảm phí thi hành án dân sự Các đối tượng được nêu tại Khoản 2 Điều 7 Thông tư như sau:

–     Giảm 80%: Người có khó khăn về kinh tế thuộc chuẩn hộ nghèo và được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc xác nhận;

–     Giảm 30%: Người được thi hành án xác minh chính xác khi yêu cầu thi hành án và cơ quan thi hành án dân sự xử lý được tài sản để thi hành án mà không phải áp dụng biện pháp cưỡng chế cần huy động lực lượng, trừ trường hợp tài sản đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài thương mại;

–     Giảm 20% Trường hợp quy định tại điểm b khoản này nếu phải áp dụng biện pháp cưỡng chế cần huy động lực lượng, trừ trường hợp tài sản đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài thương mại.

–     Để được miễn, giảm phí thi hành án dân sự, đương sự phải làm đơn đề nghị miễn hoặc giảm phí thi hành án dân sự, kèm theo các tài liệu có liên quan chứng minh điều kiện miễn, giảm theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều này.

–     Đơn đề nghị miễn hoặc giảm phí thi hành án dân sự kèm theo các tài liệu liên quan được nộp cho tổ chức thu phí.

–     Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Thủ trưởng tổ chức thu phí có trách nhiệm xem xét, ra quyết định miễn hoặc giảm phí thi hành án dân sự theo quy định tại Thông tư này hoặc thông báo bằng văn bản cho người phải nộp phí biết về việc họ không được miễn hoặc giảm phí thi hành án dân sự và nêu rõ lý do.

Về mức giảm phí thi hành án, Thông tư kế thừa cơ bản những quy định cũ, tuy nhiên có sự điều chỉnh, bổ sung về đối tượng được miễn giảm cụ thể quy định tại Khoản 2 Điều 6 Thông tư:

–     Giảm 80%: Quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật số 106/2025/QH15 nhưng sau đó cơ quan thi hành án dân sự xử lý được tài sản để thi hành án căn cứ trên nội dung xác minh của người được thi hành án về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án;

–     Giảm 30%: Tương tự Thông tư 216/2016/TT-BTC, tuy nhiên trường hợp loại trừ, quy định bao quát hơn trước đây cụ thể “trừ trường hợp tiền, tài sản đã được xác định trong bản án, quyết định được thi hành;”

–     Giảm 20% tương tự Thông tư 216/2016/TT-BTC.

–     Việc miễn, giảm phí thi hành án dân sự thực hiện đối với từng lần thu phí thi hành án dân sự, trừ trường hợp miễn phí quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.

–     Quy định mới không đề cập đến đơn đề nghị miễn hoặc giảm phí thi hành án dân sự, tuy nhiên trên thực tế khi thuộc các đối tượng được miễn hoặc giảm phí thi hành án cần phải có đơn yêu cầu để làm cơ sở áp dụng chính sách.

 

KẾT LUẬN

Thông tư 72/2026/TT-BTC không làm thay đổi căn bản quy định thu phí thi hành án dân sự mà chủ yếu kế thừa các quy định còn phù hợp, đồng thời sửa đổi, bổ sung một số nội dung nhằm bảo đảm sự thống nhất với Luật Thi hành án dân sự năm 2025 và các văn bản pháp luật có liên quan. Những điểm mới nổi bật là việc mở rộng và xác định rõ đối tượng nộp phí, hoàn thiện các trường hợp không phải chịu phí, điều chỉnh căn cứ xác định mức thu phí, bổ sung các trường hợp miễn, giảm phí và hoàn thiện cơ chế áp dụng trong một số tình huống phát sinh trên thực tế.